xem-chi-tiet-tin - UBND TP Vị Thanh

 

Hoàn thành đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình tiêu - tràm hiệu quả và bền vững ở tỉnh Hậu Giang”

Ngày 04-06-2020 - Lượt xem: 19

Thời gian thực hiện 24 tháng kể từ tháng 1-2018. Đã thông qua Hội đồng tư vấn nghiệm thu đề tài khoa học tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hậu Giang ngày 26-3-2020.

Đề tài đã đạt được 4 mục tiêu đặt ra. Thứ nhất, đánh giá hiệu quả kinh tế mang lại của mô hình tiêu tràm so với các mô hình khác; cụ thể các hộ dân trồng tiêu trên địa bàn 3 huyện Long Mỹ, Vị Thủy và thành phố Vị Thanh được chọn khảo sát, điều tra phục vụ việc so sánh hiệu quả kinh tế với các mô hình canh tác lúa, khóm. Thứ hai, nghiên cứu tính tương hợp, hỗ trợ của cây tràm cho sự phát triển của cây tiêu; tìm hiểu sự ảnh hưởng của các bộ phận cây tràm (rễ, thân, lá, vùng đất rễ) lên khả năng sinh trưởng, hạn chế các tác nhân sâu, bệnh hại trên cây tiêu. Thứ ba, đề tài đã chọn ra 03 mô hình với diện tích 2000m2 trên mỗi mô hình để thực hiện xây dựng quy trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phòng trừ tổng hợp bệnh hại chính trên cây hồ tiêu và hướng dẫn kỹ thuật cho cán bộ khuyến nông và nông dân về nhận biết và phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại, kỹ thuật canh tác hồ tiêu hiệu quả, bền vững. Thứ tư, hỗ trợ nông dân trong việc lắp đặt hệ thống tưới phun sử dụng nước hiệu quả trong mùa khô, tập huấn kiến thức về kinh tế tập thể, tăng cường hợp tác, hình thành thêm 02 tổ hợp tác trồng tiêu, gắn kết doanh nghiệp với nông dân.

Kết quả của đề tài

- Về đánh giá hiệu quả kinh tế, mô hình tiêu tràm từ năm thứ 4 trở đi sẽ mang lại ợi nhuận nhiều hơn và ổn định trên cùng một đơn vị diện tích so với các mô hình lúa và khóm.

- Dịch trích lá tràm tươi làm tăng tỷ lệ tuyến trùng chết nhanh hơn dịch trích lá tràm khô và dịch trích từ rễ tràm, lần lượt là 100%, 86% và 72% ở 2 NST nhưng không ảnh hưởng lên sự phát triển của cả Fusarium spp. và Phytopthora spp. Ngoài ra, vỏ tràm chứa các loại dinh dưỡng thiết yếu có thể cung cấp cho sự sinh trưởng của cây tiêu và đất vùng rễ tràm cũng đã thể hiện hiệu quả trong việc phòng và trị các tác nhân gây bệnh trên tiêu như tuyến trùng, nấm Fusarium spp. và Phytopthora spp.. Từ đó khẳng định tính ưu điểm và cạnh tranh của việc sử dụng cây tràm làm trụ sống so với một số loại trụ khác như xi măng hoặc cây trụ sống khác.

- Thử nghiệm hiệu quả của 3 chế phẩm Agri-Fos 400, SH-BV1 và Tricô-ĐHCT đối với tuyến trùng gây hại tại 3 vườn tiêu tràm tại Hậu Giang cho thấy, mô hình thử nghiệm ở Long Mỹ và Vị Thanh thể hiện rõ hiệu quả của các chế phẩm này trong việc làm giảm mật số tuyến trùng trong rễ tiêu và đất trồng tiêu trong khoảng thời gian từ 1 đến 7 tháng sau xử lý. Mô hình tiêu tràm ở Vị Thủy không cho thấy giảm mật số tuyến trùng sau khi xử lý các chế phẩm, có thể do sự hiện diện của lá tràm trên đất trồng tiêu đã làm cho mật số tuyến trùng trước khi xử lý đã rất thấp so với 2 vườn còn lại.

- Đối với 2 nấm gây bệnh hại trên tiêu là Fusarium spp. và Phythopthora spp. đều có mật số giảm có ý nghĩa so với đối chứng ở các nghiệm thức sử dụng các chế phẩm Tricô-ĐHCT, Agri-Fos 400 và SH-BV1 sau 1, 3 tháng sau đó hiệu lực giảm dần theo thời gian ở cả 3 mô hình.

- Mô hình ở xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy và xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ có sự gia tăng các chỉ tiêu thành phần năng suất như dung trọng, năng suất tươi, khô/cây và năng suất và lợi nhuận tấn/ha ở các nghiệm thức có sử dụng chế phẩm Agri-Fos 400 và SH-BV1.

- Các lớp tập huấn, hội thảo và tham quan học tập kinh nghiệm đã trang bị cho các hộ nông dân nhiều kiến thức bổ ích trong canh tác mô hình tiêu tràm đặc biệt là kinh tế tập thể, việc thành lập mới 2 tổ hợp tác và củng cố 2 tổ hợp tác đã góp phần cho người nông dân tự tin hơn trong việc duy trì sản xuất và phát triển mô hình tiêu tràm trong thời gian tới.

Ngoài ra Đề tài đã đề ra một số giải pháp để phát triển mô hình tiêu tràm bền vững tại tỉnh Hậu Giang trong thời gian tới:

Do thời gian gần đây tình hình giá cả tiêu thụ tiêu thấp so với những năm trước do đó người nông dân cần được khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật canh tác giảm tỷ lệ tiêu bị bệnh và chết, chi phí đầu vào, tăng năng suất để giữ vững thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích. Tiếp tục phổ biến, tập huấn cho các hộ trồng tiêu trên địa bàn quy trình được đề cập bên trên để đảm bảo tiêu sinh trưởng và cho năng suất cao.

Tổ chức sản xuất theo hướng liên kết, hình thành các tổ hợp tác để chia sẽ kinh nghiệm, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra vùng trồng an toàn, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Tiếp tục cũng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của 4 tổ hợp tác đã được thành lập thông qua các chương trình, dự án của khuyến nông, liên minh hợp tác xã,…các hội, đoàn thể, chính quyền địa phương (UBND các xã). Thường xuyên tập huấn, hỗ trợ các tổ hợp tác, các nông hộ kiến thức về kinh tế tập thể, năng lực điều hành, quản lý tổ hợp tác, cập nhật các thông tin về giá cả thị trường tiêu trong nước và thế giới.

Sản xuất theo quy trình kỹ thuật, tạo ra chất lượng hạt tiêu có độ đồng đều cao giữa các hộ trong cùng tổ hợp tác để hợp tác sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu cho tiêu của các tổ hợp tác và tỉnh Hậu Giang. Các hộ dân trồng tiêu cần lưu ý và đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, thoát nước nhanh vào mùa mưa và khi triều cường dân cao, và cung cấp nước hiệu quả, tiết kiệm trong mùa nắng, hạn. Điều chỉnh mật độ tiêu tràm trong vườn hợp lý đặc biệt là các vườn đã và đang cho trái từ 1.800 cây – 2.200 cây/ha để hạn chế dịch bệnh và đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây tiêu. Đối với các hộ trồng mới cần lưu ý trong việc lựa chọn giống tiêu phải đảm bảo chất lượng, hạn chế sâu bệnh.

Sầm Lạc Bình

Phòng Nghiên cứu thực nghiệm và Phát triển công nghệ cao


Đang online: 1
Hôm nay: 505
Đã truy cập: 213502
Bạn chưa có đủ quyền truy nhập portlet này.