xem-chi-tiet-tin - UBND TP Vị Thanh

 

6 tháng năm 2022: Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đạt 97,3%

Ngày 15-08-2022 - Lượt xem: 53

Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết đã tổng hợp và công bố 55 bài toán chuyển đổi số của các bộ, ngành và địa phương tại địa chỉ: https://c63.mic.gov.vn. Tốc độ truy cập mạng băng rộng cố định đạt 71,79 Mbps, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2021. Tốc độ truy cập mạng băng rộng di động đạt 35,29 Mbps, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2021.

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông đã có 35/35 nền tảng số quốc gia đã hoàn thành phát triển, công bố và đưa vào sử dụng, trong đó có 31 nền tảng số đã đưa vào sử dụng chính thức, 4 nền tảng số đang sử dụng thử nghiệm. Ngoài ra, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các bộ, ngành chỉ đạo phát triển, đánh giá và công bố 50 nền tảng số, trong đó có 18 nền tảng phục vụ Chính phủ số, 16 nền tảng phục vụ kinh tế số và 16 nền tảng phục vụ xã hội số.

63/63 địa phương đã được giao nhiệm vụ triển khai sử dụng tối thiểu 01 nền tảng số; 43/63 địa phương đã công bố lựa chọn nền tảng số triển khai năm 2022 lồng ghép trong kế hoạch chuyển đổi số; 8/63 địa phương đã công bố lựa chọn nền tảng số triển khai năm 2022 bằng một văn bản riêng của UBND tỉnh, thành phố.

Doanh thu an toàn thông tin mạng đạt 1.418 tỷ đồng, tăng 48,8% so với cùng kỳ năm 2021. Tỷ lệ nhóm sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng của Việt Nam so với 22 nhóm sản phẩm hệ sinh thái an toàn thông tin mạng đạt 95,5%. Tỷ lệ sản xuất/nhập khẩu tháng 6/2022 đạt 72,6%.

Việc phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được đẩy mạnh triển khai, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích cho người dân và doanh nghiệp.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm quản lý thông tin của 27 triệu hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế, bao gồm thông tin của 98 triệu người dân.

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc có  khoảng 28 triệu dữ liệu đăng ký khai sinh, trong đó có trên 7 triệu trẻ em được cấp số định danh cá nhân theo quy định; trên 6 triệu dữ liệu đăng ký kết hôn; trên 4 triệu dữ liệu đăng ký khai tử.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp chứa thông tin đăng ký doanh nghiệp theo thời gian thực của hơn 01 triệu doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc; tỷ lệ số hóa hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đạt 100%.

Tỷ lệ dịch vụ công đủ kiều kiện được cung cấp trực tuyến mức độ 4 là 97,3%; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ là 45,7%, gấp 1,6 lần so với cùng kỳ năm 2021; tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến là 36,9%, tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong 06 tháng đầu năm 2022, Cổng dịch vụ công quốc gia đã có hơn 767.000 tài khoản đăng ký; hơn 102 triệu lượt truy cập tìm hiểu thông tin, dịch vụ; hơn 32 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; hơn 1,4 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng; hơn 531.000 giao dịch thanh toán trực tuyến với số tiền hơn 1,5 nghìn tỷ đồng.

Từ khi khai trương đến nay, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 3.680 dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3, 4; hơn 2,1 triệu tài khoản đăng ký (tăng hơn 2,8 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 473 triệu lượt truy cập tìm hiểu thông tin, dịch vụ (tăng hơn 2,8 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 122,7 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái (tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 4,1 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng (tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 1 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến với số tiền hơn 2,2 nghìn tỷ đồng (tăng hơn 26 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 172.000 cuộc gọi tới tổng đài.

Trong 06 tháng đầu năm 2022, số lượng văn bản điện tử gửi, nhận trên trục trên 3,7 triệu văn bản, gấp 3,8 lần so với cùng kỳ năm 2021. Đến nay, hệ thống có tổng số hơn 12,8 triệu văn bản điện tử được gửi và nhận giữa các cơ quan hành chính nhà nước trên trục liên thông văn bản quốc gia.

Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đến hết 6 tháng đầu năm ước tính là 10,41%. Tỉ trọng này năm 2021 ước tính là 9,6%. Mục tiêu đặt ra đến năm 2025 là 20%.

Số lượng doanh nghiệp công nghệ số ước đạt 67.300 doanh nghiệp, tăng gần 3.500 doanh nghiệp so với tháng 12/2021, đạt tỷ lệ 0,69 doanh nghiệp trên 1.000 dân.

Tỷ lệ doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt 99%; tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động sử dụng hoá đơn điện tử là 100%.

Trong 5 tháng đầu năm 2022, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 76% về số lượng và 30,6% về giá trị so với cùng kỳ 2021, trong đó, qua điện thoại di động và QRCode có mức độ tăng trưởng ấn tượng nhất. Qua điện thoại di động tăng 99,1% về số lượng và 86,1% về giá trị, qua QRCode tăng 68,9% về số lượng và 113,2% về giá trị so với cùng kỳ 2021.

Tuy nhiên, theo Bộ Thông tin và Truyền thông trong quá trình triển khai chuyển đổi số nổi lên một số khó khăn, vướng mắc lớn như sau: Hệ thống đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của các bộ, ngành, địa phương chưa được kiện toàn về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ để đáp ứng vai trò dẫn dắt, tổ chức triển khai chuyển đổi số của ngành, lĩnh vực, địa phương.

Các cán bộ, công chức, viên chức thiếu kiến thức, kỹ năng để thực hiện chuyển đổi số; đặc biệt là thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp, chất lượng cao trong cơ quan nhà nước để tổ chức thực thi hoạt động chuyển đổi số. Vì vậy, cần có các chương trình đào tạo, đào tạo lại cho cán bộ, công chức, viên chức; có cơ chế, chính sách thuê chuyên gia triển khai các hoạt động chuyển đổi số của cơ quan nhà nước.

Số lượng, chất lượng kỹ sư, cử nhân, kỹ thuật viên về công nghệ thông tin, chuyển đổi số còn rất hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số. Vì vậy, cần có các mô hình đào tạo mới để bảo đảm đảm cung cấp đủ số lượng, chất lượng nhân lực chuyên môn chuyển đổi số.

Lực lượng lao động làm việc trong các ngành nghề khác nhau còn thiếu kỹ năng số trong thực hiện công việc mình.

Theo số liệu trên hệ thống thông tin về đầu tư sử dụng vốn nhà nước đến ngày 30/3/2022 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cung cấp, tổng số vốn đầu tư công nguồn ngân sách trung ương cho lĩnh vực công nghệ thông tin giai đoạn 2021 – 2025 khoảng 10.157 tỷ đồng (chiếm 0,35% tổng vốn đầu tư công giai đoạn 2021 – 2025), trong đó 8.312 tỷ đồng bố trí cho một số cơ quan trung ương, 1.845 tỷ đồng bố trí cho một số địa phương. Hiện chưa có số liệu về kinh phí đầu tư từ ngân sách địa phương. Số lượng các dự án đầu tư về công nghệ thông tin do vậy là lớn, nhưng đang thiếu công cụ để hỗ trợ việc thống kê, phân tích, giám sát phục vụ hoạch định chính sách trên dữ liệu lớn.

Các dự án đầu tư ứng dụng CNTT để hình thành nền các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu hoặc nền tảng số lớn hiện nay sẽ gặp phải vấn đề về 20 kinh phí duy trì, vận hành. Chỉ một số hệ thống thông tin phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước có thu phí, lệ phí và từ đó được trích lại một phần để phục vụ duy trì, vận hành, các hệ thống thông tin khác không có nguồn kinh phí duy trì, vận hành.

Nghị định số 73/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/9/2019 của Chính phủ và hệ thống các văn bản hướng dẫn đã tạo hành lang pháp lý cơ bản cho việc quản lý kinh phí chi đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, đến nay, đã bộc lộ một số bất cập cần phải xem xét rà soát, nghiên cứu hướng sửa đổi, bổ sung. Hệ thống định mức, đơn giá về ứng dụng công nghệ thông tin chưa đầy đủ, cụ thể hoặc đang ở mức quá thấp cũng cần phải xem xét rà soát, nghiên cứu hướng sửa đổi, bổ sung. Thiếu cơ chế giám sát triển khai chuyển đổi số định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số đã được xác định tương đối rõ ràng trên quy mô quốc gia thông qua các chương trình, chiến lược quốc gia về chuyển đổi số. Tuy nhiên, vẫn thiếu cơ chế và công cụ theo dõi, giám sát, kiểm tra để bảo đảm việc triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch chuyển đổi số của các bộ, ngành, địa phương được đồng bộ, thông suốt, phù hợp với định hướng quốc gia và các cấp, bảo đảm đầu tư đúng mục tiêu, có hiệu quả.

Kim Liên

Nguồn: mof.gov.vn

Quốc An - Văn phòng Sở (ST)


Đang online: 8
Hôm nay: 871
Đã truy cập: 841207
Bạn chưa có đủ quyền truy nhập portlet này.