Chi tiết

 

Văn hóa nghề đóng ghe, xuồng

Ngày 01-03-2020 - Lượt xem: 295

         Chưa có tài liệu hay nhân chứng nào khẳng định nghề đóng ghe, xuồng ở Ngã Bảy hình thành từ lúc nào. Nhưng nhiều vị cao tuổi cho rằng: thời xưa khi cần phương tiện này phải ra tận Cái Côn xa 15 cây số để đặt đóng. Về sau này, nhu cầu tăng "thợ, thầy" các nơi kéo về làm ăn mới mở ra các trại mộc, trại ghe nhỏ. Thấy phát đạt, họ mới bỏ vốn đầu tư lên miệt trên mua cây gỗ tốt về chuyên đóng ghe, xuồng cung cấp cho thị trường quanh vùng.

Cơ sở đóng ghe, xuồng, phường Hiệp Thành,

thị xã Ngã Bảy

SỰ HÌNH THÀNH XÓM NGHỀ

Qua tìm hiểu lịch sử hình thành nghề tiểu thủ công này, được biết đến những năm 30, 40 (thế kỷ XX) thì nghề đóng ghe, xuồng Ngã Bảy phát triển mạnh, cao điểm có gần 500 thợ, thầy, lao động làm việc. Nhiều trai đóng được ghe lớn vài ba trăm giạ (trên 100 tấn). Đầu tiên có vài ba hộ cất trại ngay đầu Doi Cát, ngay trung tâm Ngã Bảy, dần dần lan ra nhiều hộ cất trại, trở thành xóm ghe xuồng. Tất nhiên, bên phía các Doi Thành, Doi Tân Thới Hòa... cũng có một số trại ghe, xuồng mọc lên, nhưng nói chính xác Doi Cát tập trung thành xóm nghề. Nơi đây, những trại ghe, xuồng đầu tiên là của ông Ba Cư, ông Ba Phương, ông Chín Lớn, ông Bảy Thép, ông Sáu Cựu.v.v. Trong số này, có hộ truyền nghề đến đời cháu, chắt, tồn tại cho đến ngày nay.

Về chủng loại: Các trại ghe, xuồng Ngã Bảy chuyên sản xuất xuồng 5 lághe tam bản. Mặt hàng này bán rất chạy, vì nó được nghiên cứu thích nghi, phù hợp với nhà nông trong sản xuất, chăm sóc, thu hoạch lúa hoặc đánh bắt cá đồng và để làm "đôi chân" di chuyển đây đó. Vì thời điểm này ở vùng nông thôn có khi nhà này muốn qua nhà kia, phải nhờ đến xuồng, ghe.

Thời trước, gỗ tốt còn nhiều nên người đặt đóng ghe đều đòi các loại gỗ chịu nước như cây sao, cây sến, thấp lắm cũng là cây dầu núi. Từ thập niên 80 đến nay, gỗ tốt tăng giá từ đó, dầu vườn, mù u được dùng đóng ghe, thậm chí người ta sử dụng cả cây xoài, hay các loài cây tạp làm nguyên liệu nên còn gọi là ghe, xuồng "năm quăng", nghĩa là chỉ cần xài một thời gian ngắn là quăng luôn (không sửa chữa, xài lâu như các loại ghe xuồng gỗ tốt).

 Thợ thầy ở các trại Ngã Bảy có thể nhận đóng ghe có trọng tải nhiều cỡ, từ loại nhỏ 20 giạ đến 25 giạ (400 - 500 Kg) cho đến 250 giạ (100 tấn) có khả năng vận chuyển chở nặng đường xa, trên sông lớn. Tính ra, nếu 2 công thợ có thể đóng xong một chiếc ghe 40 giạ trong hơn 1 ngày.

Từ cấu trúc cơ bản truyền thống ở chiếc ghe, người ta đã nghiên cứu, chế tác, bổ sung thêm các phần phụ để trở thành loại ghe chuyên dùng cho mua bán, dịch vụ như: ghe hát, ghe thiến heo, ghe họa hình, ghe hớt tóc, ghe lò rèn, ghe mài dao, kéo.v.v. Năm 1987, ngành văn hóa Phụng Hiệp mạnh dạn mời thợ đóng con Thuyền văn hóa trọng tải 30 tấn. Trên mui ghe làm sân khấu biểu diễn văn nghệ cho khoảng 20 diễn viên. Trong khoang thuyền bố trí phòng chiếu phim vidéo hoặc đọc sách phục vụ 30 - 40 người.

KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT

Xuồng năm lá được cấu tạo bởi 5 tấm ván ghép lại. Tấm lườn (tấm đáy) nằm giữa, tạo sự cân bằng đối với 4 tấm ván ghép 2 bên. Tấm lườn là một bộ phận quan trọng như đòn dông của một căn nhà. Tiếp nối tấm lườn có đôi bè áp sát, trên là đôi vành.

Các thao tác đóng ghe, xuồng

Để giữ các tấm ván ghép bền chắc, chiếc xuồng được cân bằng, người thợ sẽ thực hiện hệ thống cây cong, tạo nên bụng xuồng bổ đều từ 10 – 12 cây. Sau đó đóng, lắp ghép phần mũi, phần lái cùng bổ chèo, cặp chèo hoặc dầm bơi v.v …Mỗi thợ có khả năng đóng một xuồng năm lá trong ngày.

Đối với kỹ thuật đóng ghe tam bản: người thợ tiến hành với kết cấu vật liệu qui mô có độ dài, to hơn xuồng. Cụ thể như số lượng tấm ván ghép thành thân ghe nhiều hơn, thường có từ 7 – 9 hoặc 12 tấm. Tấm giữa cũng gọi là tấm lườn, kế đến là tấm ván sát sườn, tấm vành, ván bô hay be gió.

Đặc biệt số lượng cong các loại ghe khác nhau, nhưng kích thước to, độ nối cong dài hơn nhiều so với cong xuồng. Sau khi thực hiện xong phần chính, người thợ sẽ làm các phần phụ như: bộ phận mũi, lái ghe, bổ chèo hoặc gánh bánh lái (nếu ghe có trọng tải lớn), đóng mui, đóng cabin, sạp mui.

Mũi ghe ở Ngã Bảy thường sơn màu đỏ khác với miệt trên là màu xanh. Mắt ghe Ngã Bảy thường hình ô-van, màu đen vành vàng.

Cuối cùng người thợ sẽ thực hiện khâu cho ghe uống dầu, trét trai kết dính các cong với những tấm ván ghe để khỏi bị nước thấm vào.

Từng lúc theo trào lưu phát triển chung: chiếc ghe, chiếc xuồng được gắn máy đuôi tôm để di chuyển nhanh hơn. Do vậy, người thợ cần tính toán kỹ khi làm bộ phận đặt máy, đảm bảo vừa chèo được, vừa chạy máy được.

***

Những năm qua, xóm ghe, xuồng ở Ngã Bảy giảm dần độ sung túc, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là: nguồn nguyên liệu gỗ hạn chế, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại phương tiện giao thông thủy, bằng vật liệu nhựa tổng hợp. Theo các nhà sản xuất, từ năm 2010 khối lượng sản xuất giảm 20%/năm. Điều đó báo hiệu nghề truyền thống thủ công này có nguy cơ mất dần.

Tuy vậy, để đáp ứng nhu cầu mới của thị trường, xóm nghề đóng ghe, xuồng đã mở rộng từ Doi Cát đến khu vực chùa Giác Long, cặp theo kinh Mương Lộ (đi Sóc Trăng). Nơi đây, các trại nhận đóng cả vỏ lãi, tàu đánh cá biển vài trăm tấn.

Từ thuở nào ghe, xuồng Ngã Bảy đã trở thành thương hiệu nổi tiếng gần, xa. Nhưng giờ đây dấu ấn của xóm nghề truyền thống chỉ còn trong tâm hồn mỗi cư dân sông nước qua câu hò, điệu hát, bài ca:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo dông khói đèn  bờ bụi tối tăm

Hoặc:

Bìm bịp kêu nước lớn ai ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.

Và còn nữa, những dấu ấn ghe, xuồng  vẫn còn đó trong bài vọng cổ Tình anh bán chiếu, qua giọng ca bất hủ của Nghệ sỹ nhân dân Út Trà Ôn ngày nào:

Ghe chiếu Cà Mau cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra ... chào.


Đang online: 10
Hôm nay: 7065
Đã truy cập: 3846949