Chi tiết

 

Văn hóa nghề đan cần xé

Ngày 01-03-2020 - Lượt xem: 277

Nói đến vùng đất Hậu Giang xưa và nay – có lẽ, ai cũng biết chợ nổi Ngã Bảy – Phụng Hiệp, một khu chợ trên sông khá qui mô, trù phú ở Đồng bằng sông Cửu Long, cách nội ô TP. Cần Thơ chỉ hơn 30 km về phía Nam. Bên cạnh chợ nổi ấy, còn có một khu dân cư - làng nghề truyền thống đã hình thành và tồn tại khá lâu, với cái tên ngộ nghĩnh: xóm Cần Xé.

Nằm dọc theo bờ kinh xáng Cái Côn – Phụng Hiệp suốt 2 km, xóm Cần Xé lúc nào cũng nhộn nhịp với hàng trăm thợ đan – lao động ngày ngày cần mẫn chẻ tre, chẻ trúc, vót nan, đan cần xé để sẵn sàng cung ứng cho thị trường đó, đây.

Cái cần xé – một vật dụng để chứa đựng, một loại phương tiện vận chuyển nông sản, đôi khi làm cả chức năng đo lường. Cần xé có mặt từ rất xa xưa trên vùng đất Nam Bộ - Hậu Giang. Nhiều vị cao niên kể rằng, từ đời ông cha họ đã biết đến loại vật dụng này. Với hình dáng như một loại “giỏ”, được đan bằng tre, trúc có miệng rộng, vành to, đáy sâu, có quai để xách, để khiêng. Đây là một loại đồ đựng gắn liền với quy trình lao động sản xuất; thu hoạch. Đặc biệt, nó được sử dụng rất nhiều trong giao thương từ nông thôn cho đến thành thị.

NGUỒN GỐC, CÔNG DỤNG VÀ NGUYÊN LIỆU

NGHỀ ĐAN CẦN XÉ

Xách cái cần xé trên tay; ngắm nhìn những nét hòan chỉnh của kỹ thuật đan thành sản phẩm – ta càng muốn tìm hiểu, đi sâu hơn về nguồn gốc và công dụng của nó.

Theo một số tư liệu, cần xé có nguồn gốc từ cái “sọt tre” ở miền Bắc và cái “gùi” của đồng bào các dân tộc miền núi. Đây là những vật dụng có mặt khá lâu đời trong đời sống sản xuất của người Việt. Đọc lại lịch sử đời nhà Trần – có đọan chép: “Phạm Ngũ Lão, ngồi đan sọt giữa đường, mãi mê suy ngẫm chuyện đánh giặc Nguyên cướp nước, bị quân lính của Hưng Đạo Vương dọn đường đâm trúng đùi mà không hay!”. Vậy là, ngay đời Trần cách đây gần ngàn năm, đã có nghề đan sọt (tiền thân của nghề đan cần xé). 

Khi nhà Nguyễn mở cuộc Nam tiến, với chủ trương khẩn hoang lập ấp – nông nghiệp ở đây phát triển nhanh chóng, đòi hỏi nhiều công cụ lao động, phương tiện, vật dụng thích nghi với hòan cảnh mới, về sản xuất, sinh hoạt gia đình, cũng như giao thương mua, bán nông sản. Trước những yêu cầu đó, sự xuất hiện của cái cần xé là hết sức cần thiết: làm ruộng phải có cái cần xé để khiêng đất, đựng phân; làm vườn phải có cái cần xé đựng trái khi thu hoạch; tát mương, tát đìa phải có cần xé đựng cá, tôm. Ngay cả trong xây dựng cũng phải có cần xé để vác đá, vác cát. Ở những vựa trái cây , vựa cá lớn tại các chợ người ta còn dùng cần xé để tích trữ lâu dài. Ngay cả khi không còn nguyên vẹn những cái cần xé, vẫn được tận dụng để chứa đất trồng hoa kiểng, ươm cây giống v.v…

Từ lâu, người sản xuất, mua bán thường phân loại cần xé theo sự chứa đựng sản phẩm, hàng hóa như Cần Xé cá, Cần Xé trái cây, Cần Xé hột vịt, Cần Xé trấu, Cần Xé cát v.v…với nhiều cỡ, loại:

- Cần xé lớn, đường kính rộng chứa đựng đến cả 10-12 giạ lúa, bằng 200 kg, loại này thỉnh thoảng mới có người đặt làm, chỉ để trữ tại chỗ.

- Cần xé vừa, sức chứa từ 3-5 giạ lúa, bằng 60-100 kg.

- Cần xé nhỏ, sức chứa từ 1,5 – 2 giạ bằng 30-40 kg.

- Đặc biệt, người ta còn đan riêng một số loại cần xé chuyên dùng, sức chứa 1 táo, bằng 10 kg rất tiện dụng trong khuân, vác cát, đá để xây dựng. Ngoài ra, còn có loại cần xé lùn: đáy cạn, dùng để chứa vật dụng, trưng bày hàng hóa, trái cây ở cửa hàng tạp hóa, cửa hàng trái cây, rau củ hoặc để khiêng một số ít hàng hóa v.v…            .

Để làm nên những cái cần xé – nguồn nguyên liệu chủ yếu chiếm 80% là trúc, còn lại là tre. Vật liệu phụ thì có dây mây. Như ta biết, thổ nhưỡng đất đai Nam Bộ - Hậu Giang phù hợp nên đâu đâu cũng trồng được trúc, tre. Do đó, ngay từ thời kỳ khẩn hoang – nghề đan cần xé đã hình thành, cùng với nhiều nghề đan thủ công khác như: đan thúng, đan mê bồ, đan rổ, đan nia, đan lờ, lợp v.v… 

Đến thời đổi mới, những năm gần đây – nghề đan đát phát triển khá mạnh. Nhiều chủng loại sản phẩm có giá trị được xuất khẩu sang nhiều nước. Kết qủa này, phần lớn do nguồn nguyên liệu trúc, tre ở các địa phương luôn dồi dào, đủ cung ứng cho sản xuất.

Ở Hậu Giang, từ xa xưa theo tập quán sinh hoạt. Cạnh mỗi nhà, mỗi khu đất thổ cư, vườn tược đều trồng vài bụi trúc, bờ tre để xài. Cá biệt, có những hộ trồng đến vài ha, cho lợi nhuận rất cao với các loại giống: tre tàu, tre xiêm, tre mỡ, tre tầm vông, tre mạnh tông, tre gai v.v…về cây trúc, thì phổ biến có 2 loại: trúc xanh và trúc vàng. Tuy nhiên, nguyên liệu dùng để đan cần xé chỉ có 2 loại giống thích hợp nhất là: trúc xanh và tre tàu.

Trúc xanh: có ưu điểm thân cao, lớn so với loại trúc vàng nên được các cơ sở sản xuất ưa chuộng.

Đối với cây tre: dùng để đan cần xé thì có lợi nhất là giống tre tàu, bởi cây rất, cao có khi đến 10-12 m.

Về trồng trọt, nhân giống đối với cây tre, cây trúc rất dễ dàng: trúc bứng ra từng bụi nhỏ, trồng xuống khỏang 2-3 năm thì thu hoạch được, gọi là trúc đủ lá. Cây nào còn non thì để dành những đợt sau khai thác tiếp. Cây tre trồng từ 4-5 năm sẽ xài được, khi đến độ tre già.

Để cung ứng cho các cơ sở đan đát – nhiều thương lái chuyên kinh doanh mặt hàng trúc, tre. Họ đưa ghe vô vườn lựa, chọn ngã giá thu mua về bán lại cho chủ cơ sở đan, tính bằng chục, bằng trăm cây. Trúc có giá từ 200 ngàn đến 300 ngàn đồng một trăm; tre từ 250 ngàn đến 300 ngàn đồng một chục.

Dùng trong đan cần xé còn có loại nguyên liệu phụ là cây mây. Do giống mây gần như tuyệt chủng ở Đồng bằng sông Cửu Long, nên các cơ sở sản xuất phải mua về từ TP. Hồ Chí Minh hoặc miền Đông sau khi mây  được chế tác, phơi khô thành từng bánh, cuộn tròn. Sử dụng tới đâu, cắt tới đó.

Xóm cần xé xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy

XÓM CẦN XÉ Ở THỊ XÃ NGÃ BẢY

Do hội đủ các điều kiện để làm ra sản phẩm thủ công bằng tre, trúc – vùng đất Nam Bộ - Hậu Giang phát triển mạnh nghề đan đát nói chung, cũng như nghề đan cần xé là điều đương nhiên. Từ việc đan theo lối nhỏ, lẻ dần mở rộng thành những làng nghề, xóm nghề. Đến nay ta vẫn còn nghe nhiều địa danh quen thuộc như: Xóm Bún, Xóm Thúng, Xóm Chiếu v.v…Đặc biệt, có ít nhất vài ba địa danh tên gọi “xóm Cần Xé”, như: xóm Cần Xé Vĩnh Thuận (Kiên Giang), Xóm Cần Xé Ngã Bảy (Hậu Giang). Ở Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cà Mau, hiện nay nghề đan cần xé vẫn còn tồn tại chung với các cơ sở đan đát, hoặc ở hộ gia đình cùng với nghề đan rổ, đan thún, đan mê bồ. Ngay tại TP. Hồ Chí Minh ở đường Tạ Uyên (Quận 11) từng có một cơ sở sản xuất cần xé đủ kích cỡ, cung ứng trong và ngoài nước từ những năm 80 (Thế kỷ XX)đến nay vẫn tồn tại.

Qua khảo sát thực tế có thể khẳng định cho đến nay, những làng nghề đan cần xé có quy mô sản xuất khá lớn, chuyên môn hóa cao, sản phẩm bán ra nhiều chỉ tập trung ở 2 Xóm Cần Xé: Vĩnh Thuận và Ngã Bảy!

Tìm về Xóm Cần Xé thị xã Ngã Bảy, người ta sẽ vừa ngạc nhiên, vừa thích thú bởi sinh hoạt làng nghề ở đây rất nhộn nhịp. Trên đường xá, sân nhà suốt con đường 2 km cơ man nào là trúc, tre được cắt đọan, chẻ thành những cọng nan chất từng đống. Một số cơ sở lớn thì thuê thợ đan, tập trung từ 5-7 người trong cái “thảo bạt”; làm từng công đoạn, nên số lượng sản phẩm làm  khá nhiều. Hộ gia đình thì thợ đan toàn là nguời nhà, có khi cụ già trẻ em cũng ngồi đan một cách cần mẫn, say sưa theo từng “món”. Cần Xé làm xong mang đi bán lẻ, hoặc đếm lại cho nhà vựa, ghe hàng trong vùng.

Xóm Cần Xé tọa lạc dài theo bờ sông Cái Côn – Phụng Hiệp. Từ chợ trung tâm thị xã vô khỏang 1km thì thuộc địa bàn khu vực 6 phường Ngã Bảy. Tiếp đó khỏang 1 km lại thuộc ấp Mái Dầm, xã Đại Thành, hai đơn vị dân cư trên đều thuộc thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

Những người cao niên kể lại: khỏang cuối thập niên 50 (thế kỷ XX), ông Dương Văn Thân tức Hai Bạch gốc gác ở xóm Giữa, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu là cán bộ kháng Pháp; do bị truy đuổi nên lánh cư về Mái Dầm, xã Đại thành, Phụng Hiệp. Tại đây, ông lập gia đình và làm nghề đan cần xé để sinh sống. Tay nghề của ông rất thành thạo, do được học nghề và có kinh nghiệm lúc ở Phước Long. Dần dần, ông truyền nghề cho lớp nghệ nhân kế thừa là: ông Nguyễn Hồng Phước, Trịnh Tỷ, Thạch Đến, Thạch Nghị…lúc đầu khu vực này chỉ có 6 gia đình làm nghề, về sau - nhất là sau ngày giải phóng cho đến thời đổi mới, cao điểm có lúc lên đến 400 hộ, với gần hai ngàn lao động. Không khí hoạt động sản xuất, tiêu thụ diễn ra ngày đêm, sôi động một khúc sông Ngã Bảy. Ông Hai Bạch gầy dựng làng nghề ngày một phát triển, tạo công ăn việc làm cho mấy thế hệ cư dân ở đây – Đến nỗi, bà con đặt cho ông biệt danh “Hai Cần Xé”. Cũng như cái xóm nghề này được mang tên Xóm Cần Xé nổi tiếng gần xa, cho đến ngày nay. Có lúc chính quyền địa phương lập Hợp tác xã đan đát. Do nghề đan cần xé đã phát triển, năm 1990, một bộ phận thợ đan ở đây kéo nhau lên truyền nghề lại khu vực cây số 125, huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai; nhiều hộ đã lập nghiệp ở luôn tại đó. Riêng ông Hai Cần xé đã qua đời vào năm 1968, thọ gần 70 tuổi. Tuy vậy, gia đình con cháu ông vẫn còn tiếp tục theo nghề …Tại khu vực 6 phường Ngã Bảy, người cuối cùng trong lớp nghệ nhân lập nên xóm Cần Xé, là ông Nguyễn Hồng Phước 80 tuổi giờ đây vẫn còn chỉ dẫn lớp con cháu bám nghề truyền thống của cha ông.

Năm 2008, xóm Cần Xé Ngã Bảy còn trên dưới 100 hộ làm nghề, với tổng số thợ và lao động từ 400 - 450 người. Trong đó, 60 % thợ biết đan cả cái cần xé , còn 40% thợ thì làm từng công đọan rời, gọi là làm món.

Qua nghiên cứu, cho thấy xóm Cần Xé Ngã Bảy vừa có qui mô sản xuất tập trung khá lớn; vừa giữ gìn đươc kỹ thuật đan truyền thống, hầu hết đều sử dụng nguyên vật liệu gốc. Dù tình hình sản xuất đang gặp một số khó khăn, nhưng bà con vẫn cố gắng vượt qua; cố bám giữ một nghề đã gắn bó và nuôi sống họ từ hơn nửa thế kỷ.

KỸ THUẬT ĐAN CẦN XÉ

Quá trình gắn bó với nghề thủ công truyền thống, người thợ đan đã dày công đúc kết được những kinh nghiêm quí báu, ngày càng hòan thiện về tay nghề. Để có những cần xé chắc, bền ra đời – cơ sở sản xuất phải tuân thủ phương pháp chế tác nguyên liệu và tiến hành đan với một qui trình kỹ thuật chặt chẽ:

Về khai thác nguyên liệu: Cơ sở sản xuất, người kinh doanh thu mua trúc, tre phải biết xem, chọn những cây trúc đủ lá, đủ tuổi; những cây tre đủ độ già. Sau đó, chặt đốn, róc lá, cắt ngọn, dọn sạch thân cây để chuẩn bị sang khâu chế tác nguyên liệu, cung cấp cho người thợ đan.

Đi vào công đoạn chế tác: sau khâu khai thác, thân cây trúc, tre được dọn sạch rồi dùng cưa cắt từng đoạn , theo từng loại nan và kích cỡ của cần xé.

- Đầu tiên, là công đoạn chẻ nan trúc: lấy cả cây trúc hoặc các đoạn trúc đã cắt, chẻ thành cọng nan. Mỗi nan có bề rộng chừng 1cm. Nan trúc ngắn, dài tùy theo kích cỡ cần xé, nhưng phải vừa đủ độ mỏng, dẻo; vừa tay người thợ. Nan gồm các loại: nan ngắn dùng để đan mê, nan đứng dùng để nối phần đáy Cần Xé thẳng lên trên. Nan thân khá dài, dùng nhiều để đan thành phần thân. Riêng nan cấu dùng để cấu cho chặt bề hoành cần xé.

- Tiếp đến là phần chẻ nan tre: lấy các đọan tre đã cắt, dùng dao chẻ thành những cây nan, gồm: nan ghim để ghim phần đáy Cần Xé giữ độ chặt, chịu lực. Mỗi cọng có bề dài, bề ngang tùy theo kích cỡ Cần Xé. Nan quai, để làm quai xách, di chuyển Cần Xé.

- Để thuận lợi khi người thợ tiến hành đan, cần dùng dao vót cho những cọng nan bằng, đều, không vướng vấp. Đây là công đọan đòi hỏi người thợ phải khéo tay, tỉ mỉ, tạo cho cọng nan có độ mỏng, láng và vừa đủ dẻo.

- Về nguyên phụ liệu cây mây: chỉ bày ra khi đến giai đoạn sử dụng, người thợ sẽ cắt dây tùy theo kích cỡ cần xé.

Khâu chế tác nguyên liệu tuy không phức tạp, nhưng đòi hỏi người lao động phải có sự thao tác khéo léo, tính toán chi li về số lượng, nhất là độ dài, độ ngắn, độ dày, độ mỏng để vừa không lãng phí vật liệu; vừa kịp thời với tiến độ đan, đảm bảo năng suất mỗi ngày.

Trước khi đan đan cần xé, người thợ còn phải có sự chuẩn bị chu đáo về công cụ hỗ trợ và một số vật liệu phụ khác như:

- Cây dao đan còn gọi là dao vót. Về nguồn gốc, thời trước người ta kêu là dao “cà to”

- Cây Dao dộng: khá dài, đầu bằng lưng dày dùng để dộng, nong cho các sợi nan khít vào nhau khi đan.

- Cây Búa dập: đầu làm bằng sắt dùng để dập phần mê lót đáy cần xé cho bằng phẳng.

- Cây dùi: dùng để nong các đường nan, cho dễ xỏ dây mây vô quai, cột miệng cần xé.

- Cây cưa: để cắt đoạn những lóng tre, trúc.

- Cây Dao nhỏ: dùng cho việc cắt dây mây, vô quai, léo miệng

Ngoài ra, người sản xuất phải chuẩn bị một số dụng cụ phụ khác, như dây chì để cột quai, niềng thân cho cần xé được chắc chắn.

Xong các bước chế tác, chuẩn bị nguyên vật liệu; công dụng hỗ trợ - cơ sở sản xuất huy động một nhóm thợ từ 5-7 người, bắt tay vào việc đan cần xé theo kỹ thuật qua các công đoạn sau đây:

- Đầu tiên là phần dập mê, đan mê: đây là công việc gầy phần đáy cần xé. Chọn những cọng nan đứng, và nan ngắn đan thành một tấm vĩ vuông gọi là đan mê. Sau đó, dùng búa dập, nện cho cái vĩ này bằng phẳng, đều gọi là dập mê.

- Công đoạn thứ hai là lên góc: tức là mở đầu công việc đan, từ phần đáy cần xé. Người thợ lấy những cọng nan đứng, rồi đan luồn vào tấm mê đến phần bìa thì uốn dựng lên, tạo hình thân bên dưới cho vuông góc, để sau đó nối tiếp phần đan thân.

- Phần này xỏ các nan đứng xen vào các nan thân theo hình chữ thập, đan qua, đan lại cho khít vào nhau. Thỉnh thỏang dùng dao dộng ở những chỗ có khe hở. Cứ thế đan hết cọng nan này, đến cọng nan khác.

- Sau các công đoạn đan thân. Người thợ chuyển tiếp phần cấu miệng: nghĩa là dùng những cọng nan già đem cấu, ngoai cho các cọng nan quấn chặt vào nhau theo bề hoành. Cứ thế đan cao dần lên cho đến khi tới miệng cần xé. Khi đó, cọng nan đứng nào còn thừa chiều cao sẽ được bẻ đi, cho bằng vành cấu phần miệng.

- Phần cuối trong qui trình đan thân là người thợ phải xử lý kỹ thuật léo miệng cần xé: sau khi quấn chặt phần miệng bằng cọng nan cấu, sẽ dùng sợi dây mây cột chặt từ miệng xuống, rồi gióng lên gút lại để tránh cần xé bị xụt xịt, bung nan vuột ra.

- Đan xong phần đáy, thân và miệng cần xé người thợ sẽ làm tiếp khâu vô quai, làm quai. Dùng cặp nan quai uốn cong lại, rồi lấy cây dùi nong các lỗ hổng ở cạnh phần miệng cần xé. Sau đó xỏ, đút cọng nan vô. Để cho chắc, bền và xách cho êm tay, người thợ cắt sợi dây mây quấn tròn bít – kín theo cây nan quai. Đồng thời luồn, kèm theo sợi dây chì kiềng từ cặp quai đến vành cấu, thả xuống đáy rồi gút trở lên cái quai phía bên kia, nhằm giữ cho cái cần xé chịu được sức nặng khi đựng đồ vật.

- Đến đây, cái cần xé gần như đã ra hình hài. Tuy nhiên, phải xử lý tiếp một công đoạn hết sức cần thiết, cuối cùng là ghim đáy. Nan tre ghim đáy đã vót hai đầu nhọn, ghim đủ chiều cao lên khỏang 2/3 của thân cần xé. Khi ghim, lật úp cái Cần Xé lại, rồi người thợ dùng sức uốn cong cây ghim hình chữ U; luồn cây ghim vô, rồi gài lại cho chặt. Tùy theo loại, cỡ cần xé mà tính số lượng ghim. Thường thì người thợ dùng từ 6-8 ghim.

Nhóm thợ đan cần xé

Cái cần xé hoàn chỉnh đúng theo quy trình, chuyên môn hóa. Đều hết sức thú vị, ngạc nhiên là: chỉ với đôi tay và các nguyên vật liệu thông thường – người thợ đã khép kín các công đọan một cách khéo léo thể hiện tính kỹ thuật rất cao: từ lúc đan thân, cái cần xé cứ xụt xịt, vặn vẹo, nhưng đến các phần léo miệng, vô quai, ghim đáy sản phẩm hoàn chỉnh đến mức không ngờ, có thể chứa đựng đến 200 kg.

Theo các cơ sở sản xuất – loại cần xé “đặt” bao giờ cũng đảm bảo kỹ thuật hơn. Bởi, người thợ vừa phải bỏ nhiều sức lực, công cán; vừa phải sử dụng nguyên vật liệu đủ tiêu chuẩn, nên giá bán đắc hơn cần xé “hàng”.

*

*    *

Năm tháng trôi qua, đã hơn nửa thế kỷ, người dân xóm cần xé Ngã Bảy, vẫn miệt mài với nghề, bằng nhiệt tâm công sức lao động. Cần xé đan xong chất vô nhà vựa, chờ mối lái đến thu về nuôi sống người thợ, rồi lại sản xuất tiếp. Tuy nhiên, trước xu thế hiện đại hóa nghề đan cần xé dần rơi vào tình trạng khó khăn về đầu ra, về nguyên liệu nên số lượng người làm nghề giảm dần.

Cùng với chợ nổi, bên cạnh xóm Cần xé Ngã Bảy đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển vùng đất Hậu Giang, cũng như ổn định đời sống cư dân. Đặc biệt, với kỹ thuật đan tinh xảo, nghề đan cần xé đã trở thành một giá trị văn hóa nghề nghiệp thủ công quý báu. Trước mắt và lâu dài, hy vọng sẽ có những “lối ra” thiết thực cho làng nghề này, nhất là các biện pháp giữ gìn và phát huy…


Đang online: 11
Hôm nay: 3129
Đã truy cập: 3836113