Từ 05/3/2020, phải ghi tên cơ quan chủ quản trong mọi trường hợp
25/3/2020, 16:5 (GMT+7)

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư, thay thế Nghị định 110/2004/NĐ-CP và Nghị định 09/2010/NĐ-CP. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ 05/3/2020.

Theo đó, Nghị định này quy định tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản là tên chính thức, đầy đủ của cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước của người có thẩm quyền ban hành văn bản. Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản bao gồm tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và tên của cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp (nếu có).

Đối với tên cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp ở địa phương có thêm tên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương hoặc xã, phường, thị trấn nơi cơ quan, tổ chức ban hành văn bản đóng trụ sở. Tên của cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp được viết tắt những cụm từ thông dụng.

Trước đây, theo Thông tư 01/2011/TT-BNV, đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Văn phòng Quốc hội; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp; Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tập đoàn Kinh tế nhà nước, Tổng công ty 91 thì không ghi cơ quan chủ quản.

Như vậy, từ ngày 05/3/2020, văn bản hành chính phải ghi tên cơ quan chủ quản trong mọi trường hợp (nếu có), không bao gồm các trường hợp loại trừ như quy định tạiThông tư 01/2011/TT-BNV

Bên cạnh đó, Nghị định 30 cũng đã bổ sung các quy định cụ thể khác so với quy định trước đây quy định tại Thông tư 01/2011/TT-BNV . Một trong những nội dung thay đổi khác đó chính là văn bản buộc phải có căn cứ ban hành.

Căn cứ ban hành văn bản bao gồm văn bản quy định thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và các văn bản quy định nội dung, cơ sở để ban hành văn bản.

Căn cứ ban hành văn bản được ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu, cơ quan ban hành, ngày tháng năm ban hành văn bản và trích yếu nội dung văn bản (riêng Luật, Pháp lệnh không ghi số, ký hiệu, cơ quan ban hành).

Nghị định 30 cũng quy định rõ, căn cứ ban hành văn bản được trình bày bằng chữ in thường, kiểu chữ nghiêng, cỡ chữ từ 13 đến 14, trình bày dưới phần tên loại và trích yếu nội dung văn bản; sau mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy (;), dòng cuối cùng kết thúc bằng dấu chấm (.).

Trước đây, theo Thông tư 01/2011/TT-BNV, tùy theo thể loại và nội dung, văn bản có thể có phần căn cứ pháp lý để ban hành chứ không bắt buộc phải có căn cứ ban hành văn bản như theo quy định tại Nghị định 30.

Như vậy, từ ngày 05/3/2020, trên văn bản ban hành buộc phải có phần căn cứ ban hành văn bản và căn cứ này được trình bày dưới phần tên loại và trích yếu nội dung văn bản bằng chữ in thường, kiểu chữ nghiêng, cỡ chữ từ 13 đến 14.

Nghị định 30 cũng có một số thay đổi quy định về số trang văn bản, cụ thể, số trang văn bản được đánh từ số 1, bằng chữ số Ả Rập, cỡ chữ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, được đặt canh giữa theo chiều ngang trong phần lề trên của văn bản, không hiển thị số trang thứ nhất và văn bản hành chính bắt buộc phải dùng phông chữ Times New Roman.

Trước đây, Thông tư 01/2011/TT-BNV quy định, số trang được trình bày tại góc phải ở cuối trang giấy (phần footer) bằng chữ số Ả-rập, cỡ chữ 13-14, kiểu chữ đứng, không đánh số trang thứ nhất. Số trang của phụ lục được đánh số riêng theo từng phụ lục.

Ngọc Phú (Tổng hợp)

Các tin khác