</xml
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẬU GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 51/BC-UBND Hậu Giang, ngày 10 tháng 5 năm 2017

 

BÁO CÁO

Kết quả 01 năm thực hiện “Chương trình an sinh, phúc lợi xã hội;

giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020”
trên địa bàn tỉnh

 
 

 


Qua 01 năm tổ chức triển khai thực hiện Chương trình số 01/CTr-UBND ngày 06 tháng 01 năm 2016 về việc thực hiện chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh báo cáo kết quả thực hiện cụ thể như sau:

PHẦN I

KẾT QUẢ 01 NĂM THỰC HIỆN “CHƯƠNG TRÌNH AN SINH,
PHÚC LỢI XÃ HỘI; GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ GIẢM NGHÈO

BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2016 - 2020”

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, TỔ CHỨC THỰC HIỆN

UBND tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện Chương trình, cụ thể:

1. Đề án “Giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang” và Đề án “Đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đến năm 2020”;

2. Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh;

3. Kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2016 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020;

4. Quyết định sáp nhập Trường Trung cấp nghề Ngã Bảy vào Trường Trung cấp nghề Hậu Giang, đổi tên thành Trường Trung cấp Kỹ thuật - Công nghệ tỉnh Hậu Giang;

5. Quyết định sáp nhập Trung tâm Dạy nghề và Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên tại các huyện Phụng Hiệp, Vị Thủy, Châu Thành, Châu Thành A; bổ sung thêm chức năng và đổi tên thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên đối với Trung tâm Giáo dục thường xuyên thị xã Long Mỹ và Trung tâm Dạy nghề huyện Long Mỹ;

6. Phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững cho các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện tổ chức thực hiện các dự án thuộc chương trình, với tổng kinh phí là 8.507 triệu đồng, trong đó, ưu tiên bố trí 500 triệu đồng hỗ trợ xây dựng, nhân rộng mô hình giảm nghèo tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao như xã Hỏa Lựu (thành phố Vị Thanh) và xã Long Bình (thị xã Long Mỹ);...

7. Chỉ đạo huyện, thị xã, thành phố xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình an sinh, phúc lợi xã hội; giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020 tại địa phương. Ngoài ra, các địa phương trong tỉnh còn bố trí thêm ngân sách địa phương và huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để thực hiện Chương trình.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2016

 1. Tạo việc làm cho 19.973/75.000 lao động, đạt 26,6% chỉ tiêu giai đoạn đề ra, đạt 133,2% chỉ tiêu kế hoạch năm 2016; trong đó, có 66/250 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động, đạt 26,4% chỉ tiêu giai đoạn đề ra, đạt 132% chỉ tiêu kế hoạch năm 2016.

2. Đào tạo nghề cho 6.841/33.488 lao động, đạt 20,4% chỉ tiêu giai đoạn đề ra, đạt 105,2% chỉ tiêu kế hoạch năm 2016; trong đó, trình độ Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề là 430/3.488, đạt 12,3% chỉ tiêu giai đoạn đề ra; đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đào tạo nghề thường xuyên, các Chương trình, Dự án khác là 6.411/30.000, đạt 21,4% chỉ tiêu giai đoạn đề ra, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề cuối năm 2016 là 23,86%;

3. Trong năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,91% xuống còn 12,48%, biên độ giảm là 2,43%, đạt 120,9% chỉ tiêu giai đoạn đề ra.

4. Có 50.937/61.309 người tham gia Bảo hiểm xã hội, đạt 83,1% chỉ tiêu giai đoạn đề ra (trong đó, có 50.543/60.767 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 394/542 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện); ra Quyết định hưởng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 3.705 người lao động.

5. 100% đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên; đột xuất; thăm hỏi, tặng quà, chúc thọ, mừng thọ tại cộng đồng đúng theo chủ trương của Đảng, chính sách, quy định của Trung ương.

6. Trung tâm Công tác xã hội tỉnh đảm bảo hoạt động ổn định, đủ điều kiện tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em bị bỏ rơi…

7. 100% các tổ chức Hội hoạt động trên lĩnh vực từ thiện xã hội được kiện toàn, củng cố và tranh thủ mọi nguồn lực từ các tổ chức xã hội từ thiện, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước triển khai thực hiện tốt công tác chăm sóc, trợ giúp các đối tượng yếu thế một cách thiết thực.

8. 92% tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và cơ hội phát triển; số vụ trẻ em bị xâm hại tình dục trên địa bàn tỉnh là 20 vụ, giảm 12 vụ so với năm 2015; số trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích là 11 em, giảm 01 em so với năm 2015.

 9. Trên 98,68% xã, phường, thị trấn trong tỉnh đạt tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em, đạt 103,9% chỉ tiêu giai đoạn đề ra.

10. 98% trẻ em được cấp giấy khai sinh theo đúng quy định, đạt 98% chỉ tiêu giai đoạn đề ra.

11. Tỷ lệ người tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 63,43%, đạt 75,2% chỉ tiêu giai đoạn đề ra.

III. PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1. Lĩnh vực đào tạo nghề:

a) Thực hiện rà soát nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp (Công ty TNHH Lạc Tỷ II, Công ty chế biến thủy sản Minh Phú, Công ty Cổ phần May Nhật Thành, Công ty chế biến thủy sản Biển Đông…) và ký kết kế hoạch đào tạo nghề, cung ứng lao động qua đào tạo nghề cho Công ty TNHH Lạc Tỷ II, Công ty Cổ phần May Nhật Thành… Từ đó, đã tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho 6.841 lao động, trong đó, Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề là 430 lao động; đào tạo nghề lao động nông thôn và đào tạo nghề thường xuyên, các Chương trình, Dự án khác là 6.411 lao động, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề cuối năm 2016 lên 23,86% (tăng 1,54% so năm 2015).

b) Số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo Đề án 1956 là 3.843 người, trong đó, nghề phi nông nghiệp là 103 lớp với 2.543 học viên; nghề nông nghiệp là 52 lớp với 1.300 học viên; tổ chức kiểm tra, giám sát các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2016 tại 08/08 đơn vị cấp huyện. Qua học nghề lao động nông thôn, số lao động có việc làm: 3.370/3.843 người, trong đó, được doanh nghiệp, đơn vị tuyển dụng là 1.090 người, được doanh nghiệp, đơn vị bao tiêu sản phẩm là 1.050 người, tự tạo việc làm là 1.170 người, thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp là 50 người; tỷ lệ có việc làm sau học nghề là 87,69% (trong đó: nông nghiệp 90,77%, phi nông nghiệp 86,12%).

c) Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp: tổ chức tuyển sinh và đào tạo nghề may công nghiệp cho lao động, cuối khóa, học viên đủ điều kiện tốt nghiệp bàn giao cho Công ty Cổ phần TNHH Lạc Tỷ II, Công ty May Nhật Thành, Cở sở May Kim Phụng, Cơ sở May Yến Nhi được 468 lao động. Đặc biệt, đã tổ chức được 02 lớp đào tạo nghề cho người khuyết tật với 14 học viên hoàn thành khóa học và có việc làm ổn định tại Trường Khuyết tật tỉnh Hậu Giang.

d) Ngoài ra, các cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh ký hợp đồng đào tạo cung ứng lao động qua học nghề cho các địa chỉ như: các đơn vị sử dụng lao động sau đào tạo gồm: Công ty TNHH Lạc Tỷ II, Công ty May Nhật Thành, Công ty May Sóc Trăng, Cơ sở May Yến Nhi, Cơ sở May Kim Phụng, Công ty TNHH Truyền Phát, Công ty TNHH XDTMDV Hoàng Phú, DNTN Lý Sơn, DNTN Thủy Mai, DNTN Thanh Tùng,... học viên sau học nghề được phía đơn vị nhận vào làm việc và có thu nhập ổn định.

 

2. Lĩnh vực Việc làm:

a)    Hoạt động tư vấn, giới thiệu và tạo việc làm cho người lao động

- Tư vấn việc làm cho 11.095 lao động, trong đó, có 4.991 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 2.579 lao động; tiếp nhận và ký kết thỏa thuận hợp đồng cung ứng lao động với 148 lượt doanh nghiệp, số lượng lao động được đề nghị cung ứng là 10.254 lao động.

- Tổ chức 09 cuộc tư vấn tập thể về chính sách lao động – việc làm và học nghề cho 1.263 học sinh, sinh viên, lao động địa phương trong tỉnh có nhu cầu tìm việc làm và học nghề.

- Toàn tỉnh đã tiến hành giải ngân 293 dự án cho vay vốn từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm với số tiền 9.967 triệu đồng, thu hút 632 lao động, giúp người lao động có việc làm ổn định và phát triển kinh tế gia đình.

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm cho 19.973 lao động, trong đó, có 66 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động; chuyển dịch cơ cấu lao động phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng vùng, từng lĩnh vực, giảm dần tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 59,10%, tăng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng lên 15,43%; thương mại và dịch vụ lên 25,47%.

 b) Hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng lao động

- Tổ chức 03 cuộc tuyển chọn ứng viên tham gia Chương trình thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản, kết quả có 23 lao động được hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ đăng ký dự tuyển.

          - Hướng dẫn 156 lao động đăng ký hồ sơ dự tuyển kỳ thi tiếng Hàn theo chương trình EPS lần thứ 11 năm 2016; kết quả, có 14 lao động đủ điều kiện và được hướng dẫn làm hồ sơ đăng ký dự tuyển để giới thiệu cho chủ sử dụng lao động Hàn Quốc tuyển chọn.

          - Thực hiện 04 cuộc thông báo trên địa bàn tỉnh về kỳ thi kiểm tra tiếng Hàn trên máy tính dành cho người lao động về nước đúng thời hạn có nguyện vọng trở lại Hàn Quốc làm việc; qua đó, đã tư vấn, hướng dẫn 11 người lao động có nguyện vọng đăng ký tham gia.

- Tổ chức khai giảng 07 lớp bồi dưỡng ngoại ngữ tiếng Hàn dành cho lao động có nguyện vọng tham gia xuất khẩu lao động tại thị trường Hàn Quốc theo chương trình EPS, với số lượng 261 học viên tham gia.

c) Tổ chức Sàn giao dịch việc làm

- Thực hiện 10 cuộc điều tra, khảo sát nhu cầu việc làm phi nông nghiệp trực tiếp tại các hộ gia đình; qua đó, đã tổ chức được 07 cuộc giao dịch việc làm lưu động tại các điểm xã, phường được khảo sát, 01 cuộc giao dịch việc làm quy mô cấp huyện tại UBND huyện Long Mỹ và 01 cuộc giao dịch việc làm tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Hậu Giang. Đến tham dự có trên 1.200 lao động, trong đó, có 331 lao động có nguyện vọng đăng ký thông tin tìm kiếm việc làm và học nghề.

- Thực hiện 12 cuộc giao dịch việc làm định kỳ hàng tháng tại các Văn phòng Bảo hiểm thất nghiệp – Dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh dành cho người lao động đang hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp.

d)    Thu thập thông tin cung – cầu lao động

- Tổ chức 03 lớp tập huấn về công tác cập nhật và xử lý thông tin cung, cầu lao động với 240 cán bộ làm công tác điều tra cung, cầu lao động tham dự; tổ chức cập nhật và xử lý thông tin cung cầu lao động năm 2016 trên địa bàn tỉnh; đồng thời, tổ chức thực hiện 32 cuộc kiểm tra, giám sát, thị sát về công tác cập nhật và xử lý thông tin cung - cầu lao động trong năm 2016.

- Tổ chức 02 lớp tập huấn về công tác khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu cung - cầu lao động thông qua hệ thống phần mềm online do Cục Việc làm cung cấp và phần mềm Quản lý thông tin cung lao động chưa qua đào tạo offline trên địa bàn tỉnh do Trung tâm Dịch vụ việc làm cung cấp với 200 cán bộ tham dự.

IV. THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.     Thực hiện các chính sách giảm nghèo chung:

a) Chính sách về y tế: cấp mới 108.868 thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, với tổng số tiền 68.230 triệu đồng.

- Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: xét miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho 9.861 lượt học sinh thuộc hộ nghèo; đồng thời, trong năm các ngành, tổ chức chính trị, xã hội, Hội đoàn thể các cấp đã tổ chức vận động, quyên góp tặng dụng cụ học tập, trao học bổng cho học sinh nghèo hiếu học ở vùng sâu, vùng xa, con hộ đồng bào dân tộc thiểu số với tổng số tiền trên 13.766 triệu đồng.

b) Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề: thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, hỗ trợ người nghèo có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, góp phần giảm nghèo bền vững; trong năm, đã đào tạo nghề cho 800 lao động nghèo, với kinh phí thực hiện là 1.200 triệu đồng.

c) Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo: tổ chức trợ giúp pháp lý cho 747 người nghèo thông qua các hình thức như: tư vấn, tham gia tố tụng...

d) Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo: từ nguồn vận động, toàn tỉnh đã xây dựng mới 406 căn nhà tình thương cho hộ nghèo, với tổng kinh phí là 14.120 triệu đồng; hỗ trợ xây dựng 200 căn nhà cho hộ nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015, với tổng kinh phí 5.025 triệu đồng.

đ) Chính sách hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi: cho vay tín dụng ưu đãi đối với 7.284 hộ nghèo, hộ cận nghèo, với số tiền là 136.623 triệu đồng.

e) Chính sách hỗ trợ tiền điện: đã cấp tiền điện cho 29.045 hộ nghèo, với tổng kinh phí thực hiện trên 8.539 triệu đồng.

g) Hỗ trợ đột xuất ngắn hạn: hỗ trợ tiền Tết cho 16.155 hộ nghèo, với
kinh phí thực hiện trên 5.654 triệu đồng. Ngoài ra, Chi nhánh Viettel Hậu Giang còn trao tặng 1.000 điện thoại di động cho người có công với cách mạng, hộ nghèo trên địa bàn thị xã Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ, các huyện: Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp, Vị Thủy, Long Mỹ, với số tiền trên 660 triệu đồng; tổ chức họp mặt, tặng quà, ăn Tết với gia đình chính sách, hộ nghèo tại 06 điểm trên địa bàn xã Xà Phiên (huyện Long Mỹ), xã Tân Phước Hưng (huyện Phụng Hiệp), xã Vĩnh Tường (huyện Vị Thủy), với các hoạt động chính như: bàn giao và đưa vào sử dụng 06 căn nhà tình thương cho hộ nghèo, tặng 1.800 phần quà cho gia đình chính sách, hộ nghèo, tổng kinh phí 1.050 triệu đồng; hỗ trợ đầu thu số hóa truyền hình mặt đất cho 33.488 hộ nghèo, hộ cận nghèo.

2. Thực hiện các chính sách thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững:

a) Kết quả thực hiện Chương trình 135, bao gồm hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã, các ấp đặc biệt khó khăn: thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cho 263 hộ; dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như: xây dựng được 05 công trình, nâng cấp, sửa chữa 03 hạng mục công trình với tổng kinh phí thực hiện 7.457 triệu đồng.

b) Kết quả thực hiện dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo: tổ chức hỗ trợ cho 96 hộ nghèo trên địa bàn xã Hỏa Lựu (thành phố Vị Thanh) và xã Long Bình (thị xã Long Mỹ) để xây dựng và nhân rộng các mô hình đang thiếu vốn, cần được hỗ trợ thêm vốn để phát triển quy mô sản xuất như: mô hình nuôi thủy sản, trồng màu, chăn nuôi thú y, buôn bán nhỏ…, với tổng kinh phí thực hiện là 500 triệu đồng; kết quả có 21 hộ thoát nghèo, chiếm tỷ lệ 21,88% so với tổng số hộ nghèo được hỗ trợ.

c) Kết quả thực hiện dự án truyền thông và giảm nghèo về thông tin: in, phát hành 24.000 tờ rơi và 935 cẩm nang giảm nghèo; xây dựng chuyên đề về giảm nghèo với 03 kỳ phát hình trên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh; thực hiện 06 kỳ thông tin truyên truyền về giảm nghèo trên Báo Hậu Giang; tổ chức tập huấn công tác tuyên truyền về giảm nghèo cho 60 cán bộ tuyên truyền ở cấp huyện với tổng kinh phí 250 triệu đồng.

 d) Kết quả thực hiện dự án nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình:

- Tổ chức đối thoại trực tiếp với hộ nghèo đăng ký thoát nghèo về chính sách giảm nghèo, với 08 cuộc trên địa bàn các xã, phường, thị trấn có tỷ lệ hộ nghèo cao, có 400 hộ nghèo tham dự, kinh phí thực hiện trên 23 triệu đồng.

- Tổ chức 09 lớp tập huấn nghiệp vụ công tác giảm nghèo cho trên 1.500 lượt lãnh đạo, cán bộ làm công tác giảm nghèo với kinh phí trên 180 triệu đồng; Nhập liệu thông tin, tạo cơ sở dữ liệu về hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh làm cơ sở in ấn Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2016, với kinh phí thực hiện gần 35 triệu đồng.

- Tổ chức các cuộc kiểm tra, giám sát về công tác giảm nghèo tại 54 xã, phường, thị trấn thuộc 08 huyện, thị xã, thành phố, với kinh phí thực hiện là 13 triệu đồng.

 

V. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO TRỢ VÀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI

1. Thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 307.150 lượt đối tượng bảo trợ xã hội, với tổng số tiền hơn 108.000 triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 1.473 trường hợp với số tiền 7.954,2 triệu đồng; trợ cấp đột xuất cho 211 trường hợp với số tiền gần 2.036 triệu đồng; mua 20.562 thẻ Bảo hiểm y tế, kinh phí thực hiện 13.000 triệu đồng; hỗ trợ Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016 cho 24.515 đối tượng Bảo trợ xã hội, kinh phí 8.580,25 triệu đồng.

2. Tổ chức chúc thọ, mừng thọ cho 9.150 người cao tuổi trong độ tuổi quy định, kinh phí thực hiện 2.000 triệu đồng; thăm, tặng 332 phần quà cho người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn nhân Ngày người khuyết tật Việt Nam (18/4) với số tiền 99,6 triệu đồng; tổ chức Họp mặt kỷ niệm 55 năm Ngày thảm họa da cam Việt Nam (10/8/1961 - 10/8/2016) và tặng 446 phần quà cho các nạn nhân da cam với tổng số tiền là 133,8 triệu đồng.

3. Tranh thủ nguồn kinh phí hỗ trợ từ Trung ương và ngân sách tỉnh để đầu tư xây dựng Trung tâm Bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, với tổng kinh phí đầu tư là 80.000 triệu đồng; trong năm 2017, sẽ triển khai xây dựng giai đoạn 01 với kinh phí 50.000 triệu đồng, trong đó: Trung ương hỗ trợ 44.000 triệu đồng; ngân sách tỉnh 6.000 triệu đồng; bố trí kinh phí gần 1.000 triệu đồng để nâng cấp, sửa chữa Trung tâm Công tác xã hội tỉnh phục vụ việc chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật thần kinh, tâm thần và người sống lang thang; đến cuối năm 2016, Trung tâm quản lý, chăm sóc 138 người (trong đó: người khuyết tật thần kinh, tâm thần là 129 người; trẻ em lang thang, người lang thang xin ăn là 09 người).

4. Thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn tỉnh (Đề án 32), trong năm 2016, có 46 học viên tốt nghiệp lớp Trung cấp nghề công tác xã hội.

5. Tiếp nhận tài trợ từ Đoàn thiện nguyện Hoa Kỳ Mercer on Mission - Đại học MERCER tổ chức lắp chân giả cho 179 người bị cụt chân và khám, chữa trị, cấp thuốc miễn phí cho 848 người bị mắc bệnh khớp với tổng kinh phí là 1.900 triệu đồng.

6. Tổ chức vận động và tranh thủ mọi nguồn lực từ các tổ chức xã hội từ thiện, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước để triển khai thực hiện tốt công tác chăm sóc, trợ giúp các đối tượng yếu thế; trong năm 2016, đã vận động kinh phí hơn 16.000 triệu đồng để chăm sóc, hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, Hội Bảo trợ Người tàn tật - Bệnh nhân nghèo - Trẻ mồ côi tỉnh đã tranh thủ sự hỗ trợ từ tổ chức Assorv (Pháp) được số tiền 3.000 triệu đồng để nâng cấp sửa chữa Nhà Nuôi trẻ mồ côi Hoa Mai Cần Thơ (Châu Thành A).

 

VI. THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH, PHÚC LỢI XÃ HỘI KHÁC

1. Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng:

a) Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công; tiếp nhận mới 3.373 hồ sơ đề nghị hưởng chính sách người có công các loại, xem xét, giải quyết thực hiện chế độ chính sách được 3.011 hồ sơ.

b) Thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 82.253 lượt đối tượng, giải quyết chế độ mai táng phí, thực hiện trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp một lần, điều dưỡng tại gia đình cũng như điều dưỡng tập trung... kịp thời cho các đối tượng người có công với tổng kinh phí trên 108 tỷ đồng.

c) Tổ chức Lễ phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối với 99 Mẹ nghiệm thu, đưa vào sử dụng công trình nâng cấp, trùng tu Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh.

d) Nhân dịp Tết Nguyên đán và kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2016), Tỉnh tổ chức họp mặt, thăm viếng và tặng trên 58.085 phần quà cho các đối tượng chính sách với tổng số tiền trên 15.653 triệu đồng.

đ) Tổ chức Tháng hành động “Đền ơn đáp nghĩa” nhân kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2016) với các hoạt động tiêu biểu như: thành lập đoàn đến thăm và tặng quà cho gia đình chính sách, người có công tiêu biểu tại các huyện, thị xã, thành phố; phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức Lễ cải táng 04 hài cốt liệt sỹ; phối hợp với Tỉnh đoàn tổ chức thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ; tổ chức Lễ dâng hương tại Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh; thăm 204 người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các bệnh viện trong tỉnh…

e) Các địa phương đã tổ chức 27 cuộc Hội nghị gặp gỡ, trao đổi và thông tin đến người có công về các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại các địa phương, qua đó đã nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người có công cũng như tình hình thực hiện chính sách ưu đãi người có công tại địa phương; vận động xây dựng và sửa chữa được 222 căn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí trên 9.545 triệu đồng.

2. Thực hiện các chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em:

a) Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em; Chương trình Phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020; triển khai “Tháng hành động vì trẻ em năm 2016”.

- Tổ chức Chương trình “Nụ cười Xuân”; chuỗi hoạt động của “Tháng hành động vì trẻ em”; họp mặt ngày Quốc tế thiếu nhi 01/6; tổ chức Tết Trung thu; qua đó, đã thăm, tặng quà cho 45.436 trẻ em thuộc diện hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em bị tai nạn thương tích, bệnh hiểm nghèo, bị xâm hại tình dục … với tổng kinh phí thực hiện trên 4.000 triệu đồng. 

- Tổ chức Diễn đàn trẻ em ở 06 đơn vị cấp huyện và 02 đơn vị cấp xã với 865 trẻ em tham gia, kinh phí trên 300 triệu đồng.

- Phối hợp với Đoàn Y bác sĩ bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khám sàng lọc cho bệnh nhân bị bệnh tim bẩm sinh trên địa bàn tỉnh. Kết quả: có 78 người đăng ký khám, chỉ định phẫu thuật là 21 người (10 trẻ em và 11 người lớn); tổng số trẻ em bị tim bẩm sinh được phẫu thuật năm 2016 là 14 em với tổng kinh phí trên 984 triệu đồng.

- Cấp mới 85.845 thẻ Bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí trên 53.000 triệu đồng; tổ chức điều tra thu thập thông tin, số liệu trẻ em và cập nhật dữ liệu vào phần mềm quản lý trên địa bàn huyện Phụng Hiệp và thị xã Ngã Bảy.

VII. NGUỒN LỰC THỰC HIỆN

Tổng kinh phí thực hiện “Chương trình an sinh, phúc lợi xã hội; giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020” trong năm 2016 là: 410.191 triệu đồng, trong đó:

- Ngân sách Trung ương: 104.116 triệu đồng;

- Ngân sách tỉnh: 128.663 triệu đồng;

- Vận động từ các cá nhân, tổ chức, mạnh thường quân trong và ngoài nước: 177.412 triệu đồng.

(Đính kèm bảng số liệu chi tiết)

VIII. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Ưu điểm:

a) Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh ngày càng ổn định và phát triển, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện rõ nét; các dịch vụ xã hội khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế; chế độ ưu đãi về giáo dục - đào tạo, vay vốn để phát triển sản xuất kinh tế gia đình, các công trình cầu, đường, lộ giao thông nông thôn… từng bước được bao phủ và hoàn thiện.

b) Chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo nghề được nâng cao, tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề bình quân khoảng 87,69%. Ở nhiều địa phương, việc đào tạo nghề đã gắn với giải quyết việc làm, tự tạo việc làm; nhiều nông dân sau khi học nghề, bồi dưỡng tay nghề đã mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.

c) Tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát các lớp đào tạo nghề (thường xuyên, đột xuất, định kỳ) về tình hình mở lớp, tình hình giảng dạy, việc làm sau học nghề, đầu ra sản phẩm; qua đó, đánh giá được những ưu điểm để tiếp tục phát huy, nhân rộng; đồng thời, nhận rõ những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục, chấn chỉnh, góp phần nâng cao nhận thức tích cực đối với công tác đào tạo nghề.

d) Việc rà soát, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp công lập đã góp phần nâng cao được năng lực của các Trường, các Trung tâm, giúp cho người lao động có điều kiện tham gia học nghề để tạo việc làm ngay tại địa phương, góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống.

đ) Kết quả giảm nghèo vượt chỉ tiêu đề ra đã tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

e) Nguồn lực từ ngân sách nhà nước, vận động xã hội hóa được tăng cường; việc lồng ghép các chính sách đào tạo nghề, xây dựng nông thôn mới, chính sách giảm nghèo được thực hiện đồng bộ trên địa bàn tỉnh, cơ bản bao phủ được số hộ nghèo, người nghèo và địa bàn xã còn khó khăn, giúp người nghèo tiếp cận được các dịch vụ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững.

g) Tổ chức nhiều cuộc đối thoại với người nghèo tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trên địa bàn tỉnh. Qua đó, đã nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người nghèo và tình hình thực hiện các chính sách giảm nghèo tại các địa phương để có những giải pháp hỗ trợ hợp lý.

h) Việc tổ chức triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp cho các đối tượng yếu thế nhìn chung đảm bảo theo nguyên tắc công khai, dân chủ, đúng quy trình và theo quy định của pháp luật.

i) Tổ chức thành công Tháng hành động “Đền ơn đáp nghĩa” nhân kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2016) với các hoạt động ý nghĩa, thiết thực, đặc biệt là tổ chức tốt các cuộc Hội nghị gặp gỡ người có công; những ý kiến phản ánh, kiến nghị của người có công được tiếp thu, trao đổi, xem xét và giải quyết kịp thời.

k) Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhận được sự quan tâm của các ngành, các cấp, nhất là trong công tác vận động, kêu gọi sự hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân.

* Nguyên nhân đạt được những kết quả trên:

- Nhận được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh.

- Sự nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn của đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội từ tỉnh đến cơ sở.

- Việc điều hành và tổ chức thực hiện có xác định trọng tâm, trọng điểm rõ ràng; quá trình triển khai thực hiện có sự gắn kết chặt chẽ giữa các ngành liên quan.

2. Về hạn chế:

a) Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc mặc dù có tăng nhưng vẫn còn thấp so với đối tượng bắt buộc phải tham gia theo quy định, số người chưa tham gia chủ yếu ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể có thuê mướn, sử dụng lao động; tình trạng trốn đóng, chậm đóng, nợ đọng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp kéo dài vẫn còn diễn ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

b) Số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn còn ít, quy mô đa số là vừa và nhỏ, sử dụng ít lao động kỹ thuật; sự tham gia vào cuộc của các doanh nghiệp đối với công tác đào tạo nghề còn rất hạn chế, nhất là việc tiếp nhận lao động có tay nghề vào doanh nghiệp còn ít dẫn đến việc lao động đi làm việc ngoài tỉnh còn nhiều.

c) Chương trình giảm nghèo được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đặc biệt quan tâm, tuy nhiên còn một số địa phương chưa thật sự quan tâm thường xuyên, liên tục, trong lãnh chỉ đạo còn mang tính thời vụ; công tác phối hợp giữa các ngành từng lúc, từng nơi chưa nhịp nhàng, thiếu chặt chẽ, còn mang tính chuyên ngành, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của công tác này.

d) Kế hoạch giảm nghèo từng lúc, từng nơi chưa được quan tâm đúng mức, chưa có nhiều biện pháp mới, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng
địa phương.

đ) Công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tại một số địa phương còn chậm, thiếu chặt chẽ, thông tin chưa đầy đủ chính xác, phải điều chỉnh nhiều lần, một số điều tra viên thực hiện chưa theo quy trình. Bên cạnh đó, có một vài địa phương công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, có dấu hiệu chạy theo thành tích hoặc muốn được công nhận xã đặc biệt khó khăn, xã nông thôn mới dẫn đến đưa vào danh sách hộ thoát nghèo hoặc bổ sung hộ nghèo, hộ cận nghèo nhiều.

e) Các Chương trình, Đề án trợ giúp liên quan đến người cao tuổi, người khuyết tật, tâm thần, người rối nhiễu tâm trí, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đề án phát triển nghề công tác xã hội... chỉ dừng lại ở việc thực hiện được các chỉ tiêu liên quan đến chính sách an sinh xã hội và nguồn lực thực hiện chủ yếu là từ nguồn Trung ương hỗ trợ.

g) Trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương vẫn còn một số trường hợp vướng mắc trong công tác xét, công nhận thương binh, liệt sỹ đã bị thương, hy sinh trong kháng chiến hiện không còn giấy tờ. Từng lúc, từng nơi, công tác tuyên truyền, triển khai các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đến người dân còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến trước đây; công tác quản lý đối tượng còn chưa chặt chẽ, ít nhiều làm ảnh hưởng đến việc lập hồ sơ, từ đó dẫn đến một số chính sách ưu đãi chưa được thực hiện kịp thời.

h) Một số địa phương chưa kịp thời hướng dẫn UBND cấp xã thực hiện rà soát, điều chỉnh hệ số trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội; công tác thẩm định hồ sơ của đối tượng bảo trợ xã hội trước khi trình UBND cấp huyện ký quyết định trợ cấp chưa đảm bảo thành phần, thời gian quy định.

i) Chính sách mở rộng, áp lực công việc cao, cán bộ được giao thêm việc nhưng chế độ đãi ngộ còn hạn chế (nhất là cán bộ cơ sở), từ đó, không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống, chưa an tâm công tác.

k) Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp đến người lao động, người sử dụng lao động và Nhân dân chưa sâu rộng, việc phối hợp giữa các ngành có liên quan chưa chặt chẽ. Bên cạnh đó, đa số các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là vừa và nhỏ, sử dụng ít lao động, các doanh nghiệp chỉ chú trọng đến sản xuất và lợi nhuận. Từ đó, ý thức chấp hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động và người lao động chưa cao.

* Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên:

- Nguyên nhân khách quan: điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, một số chính sách mới ban hành chậm có văn bản hướng dẫn thực hiện.

- Nguyên nhân chủ quan: một số lĩnh vực an sinh, phúc lợi xã hội chưa được cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ của địa phương; đội ngũ cán bộ cơ sở kiêm nhiệm nhiều công việc, chưa đáp ứng về chuyên môn, thiếu ổn định; nhận thức của người lao động về học nghề, tự tạo việc làm chưa đầy đủ, tích cực; một số hộ nghèo còn tâm lý trông chờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

PHẦN 2

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NĂM 2017

I. MỤC TIÊU CHUNG

Tiếp tục tập trung thực hiện tốt, đúng, đủ, kịp thời các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững; bảo đảm cung cấp hệ thống dịch vụ xã hội và chính sách trợ giúp cho các đối tượng yếu thế; phát triển thị trường lao động gắn với nâng cao chất lượng đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; huy động tối đa các nguồn lực, thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững; góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh năm 2017 và những năm tiếp theo.

II. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 15.000 lao động.

2. Số lao động được đào tạo nghề là 6.500 lao động, trong đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đào tạo nghề từ các chương trình, dự án, xã hội hóa là 6.200 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 25,21%.

3. Giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 2%, hạn chế hộ tái nghèo, hộ nghèo phát sinh mới.

4. Có 57.321 người tham gia Bảo hiểm xã hội (trong đó, có 56.321 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 1.000 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện).

5. 100% đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên, đột xuất; thăm hỏi, tặng quà, chúc thọ, mừng thọ tại cộng đồng đúng quy định.

6. Đảm bảo Trung tâm Công tác xã hội tỉnh hoạt động ổn định, đủ điều kiện tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em bị bỏ rơi...

7. 100% các tổ chức Hội hoạt động trên lĩnh vực từ thiện xã hội được kiện toàn, củng cố và tranh thủ mọi nguồn lực từ các tổ chức xã hội từ thiện, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước nhằm triển khai thực hiện tốt công tác chăm sóc, trợ giúp các đối tượng yếu thế.

8. 93% tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển; giảm số trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục, bị tai nạn thương tích so với năm 2016.

9. Trên 98,68% xã, phường, thị trấn trong tỉnh đạt tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em.

10. Trên 98% trẻ em được cấp giấy khai sinh theo đúng quy định.

11. Tỷ lệ người tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 78%.

III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

1. Giải pháp chung:

a) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và triển khai các nội dung thuộc Chương trình an sinh, phúc lợi xã hội; giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên các phương tiện thông tin đại chúng để các ban, ngành, đoàn thể, người dân, các doanh nghiệp nắm được và cùng phối hợp triển khai thực hiện.

b) Quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở, nhất là cán bộ trực tiếp làm công tác tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình.

c) Tăng cường các biện pháp theo dõi, quản lý, kiểm tra trên từng mặt, từng nội dung trong quá trình tổ chức thực hiện tại địa phương; đặc biệt, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp huyện và cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã nhằm kịp thời phát hiện những sai sót để có giải pháp khắc phục phù hợp.

d) Tập trung huy động tối đa mọi nguồn lực để thực hiện, bố trí hợp lý, có ưu tiên địa bàn khó khăn.

2. Giải pháp trên từng lĩnh vực:

a) Đào tạo nghề

- Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực và trong chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực của tỉnh. Các tổ chức xã hội nghề nghiệp phải quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề để tuyên truyền, tư vấn, hướng nghiệp cho đoàn viên, hội viên của tổ chức mình thực hiện, góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội về đào tạo nghề.

- Thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; tiếp tục đầu tư cho những cơ sở giáo dục nghề nghiệp có nghề trọng điểm (đầu tư đồng bộ) một số nghề trọng điểm chưa được đầu tư hoàn chỉnh; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đào tạo nghề cho các đối tượng chính sách, nhóm lao động yếu thế trong xã hội và phổ cập nghề cho người lao động; có chính sách thu hút nguồn lực trong và ngoài tỉnh để phát triển đào tạo nghề.

- Thực hiện liên thông trong đào tạo và phân luồng mạnh mẽ vào đào tạo nghề; thường xuyên bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên giảng dạy về trình độ đào tạo, kỹ năng và sư phạm.

- Các Trường, Trung tâm cần xây dựng, bổ sung hoặc sửa đổi chương trình đào tạo, nội dung đào tạo phù hợp, linh hoạt, sát với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp; thực hiện kiểm định cơ sở giáo dục nghề nghiệp và kiểm định đào tạo; theo dõi, thu thập thông tin về học sinh học nghề sau khi tốt nghiệp; tiếp nhận các thông tin từ phía doanh nghiệp và thay đổi để thích ứng với nhu cầu của doanh nghiệp; gắn đào tạo nghề với thị trường lao động để đảm bảo việc làm cho người lao động và nhu cầu của người sử dụng lao động.

- Doanh nghiệp có trách nhiệm chính trong việc đào tạo nghề cho doanh nghiệp của mình (tự tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho lao động nông thôn của doanh nghiệp; phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp để cùng đào tạo, đặt hàng đào tạo); đóng góp vào hỗ trợ học nghề; đồng thời, trực tiếp tham gia vào các hoạt động đào tạo nghề (xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của học sinh học nghề…); thường xuyên cung cấp thông tin về nhu cầu việc làm và thường xuyên có thông tin phản hồi cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp về mức độ hài lòng đối với người lao động để có giải pháp thực hiện tốt hơn.

- Đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng nguồn lực cho phát triển đào tạo nghề.  

b) Phát triển thị trường lao động, tạo nhiều việc làm cho người lao động

- Thường xuyên tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề, nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp, năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề để tổ chức các khoá đào tạo phù hợp với trình độ và điều kiện của người học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và doanh nghiệp.

- Định hướng cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chú trọng xây dựng chương trình, giáo trình theo hướng gọn nhẹ, linh hoạt, thực hành là chủ yếu để người học dễ dàng tiếp cận; lồng ghép vào chương trình nội dung kiến thức về doanh nghiệp, khởi sự doanh nghiệp để người lao động sau khi học nghề biết cách huy động vốn, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.

- Tăng cường phối hợp giữa bên “cầu” và bên “cung”, các ngành, các địa phương (bên cầu lao động) phải có quy hoạch phát triển ngành, phát triển kinh tế - xã hội để từ đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (bên cung) tổ chức đào tạo cho phù hợp; đặc biệt, cần có sự phối hợp, tham gia tích cực của chính quyền các cấp, các ngành, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

- Tổ chức sàn giao dịch việc làm tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh và các điểm giao dịch việc làm tại các địa phương; tiếp tục phối hợp với các đơn vị có liên quan đẩy mạnh công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động; đẩy mạnh công tác đào tạo ngoại ngữ dự nguồn phục vụ cho xuất khẩu lao động; kêu gọi, vận động người lao động về nước đúng thời hạn hợp đồng (nhất là thị trường Hàn Quốc).

- Tập trung thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, các chương trình, dự án đã ban hành nhằm tạo nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho người lao động, nhất là đối với thanh niên, lao động nông thôn, lao động tại các khu dân cư vượt lũ, lao động tại vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật,…

- Tiếp tục thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong tỉnh gắn với tạo việc làm; ưu tiên khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông thủy sản, hàng xuất khẩu, các ngành nghề truyền thống thu hút người lao động, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn, nhất là khu vực nông thôn vùng sâu vùng xa, nơi có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển.

- Tiếp tục thực hiện cho vay vốn từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm nhằm tạo việc làm mới cho người lao động; tập trung ưu tiên nguồn vốn cho vay đối với các dự án cơ sở sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động.

- Tổ chức điều tra thu thập thông tin cung, cầu lao động, khai thác tốt các thị trường lao động, dữ liệu cung, cầu lao động; nâng cao chất lượng dự báo, tăng cường rà soát tình hình lao động mất việc làm, thiếu việc làm, kết nối cung, cầu lao động để tạo ra nhiều việc làm mới trên địa bàn trong tỉnh và ngoài tỉnh.

c) Lĩnh vực Giảm nghèo

 - Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền và phát huy vai trò nòng cốt của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng đối với công tác giảm nghèo; huy động cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở bắt tay vào cuộc, có phân công trách nhiệm rõ ràng, giúp người nghèo vươn lên là phải giúp từng trường hợp cụ thể, giúp nghề, giúp vốn, giúp phương tiện làm ăn...; đặc biệt, phải tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức cho người nghèo trong việc tự nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn và khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật trong sản xuất để cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và toàn xã hội tự tạo việc làm, ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập, vươn lên thoát nghèo bền vững.

- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách, dự án hỗ trợ hộ nghèo; hướng dẫn người nghèo trong tổ chức cuộc sống gia đình, cách làm ăn, trên cơ sở điều kiện khả năng của hộ để xây dựng phương án sản xuất làm ăn hiệu quả thông qua câu lạc bộ, tổ giảm nghèo, tổ tiết kiệm..., từ đó xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập cho hộ nghèo.

- Xây dựng phong trào giảm nghèo, biểu dương, khen thưởng cá nhân người nghèo, hộ nghèo là những điển hình tiên tiến, tích cực và biết tính toán phương án làm ăn hiệu quả, vươn lên thoát nghèo bền vững; nhân rộng mô hình làm ăn hiệu quả để hộ nghèo ở các địa phương học tập và chia sẻ kinh nghiệm; kịp thời khen thưởng, động viên các địa phương có cách làm hay, chủ động sáng tạo trong việc tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo.

 

d) Lĩnh vực Bảo trợ xã hội

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc tổ chức triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp cho đối tượng bảo trợ xã hội; triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án trợ giúp các đối tượng người khuyết tật, người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt…; tuyên truyền, vận động các nhà hảo tâm, mạnh thường quân, các tổ chức hội xã hội chung tay, góp sức trong việc hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm và nguồn lực để phát triển trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người khuyết tật dựa vào cộng đồng.

- Thường xuyên nắm bắt tình hình đời sống Nhân dân khi có thiên tai, đói giáp hạt để kịp thời trợ cấp theo quy định.

đ) Lĩnh vực người có công với cách mạng

- Tiếp tục giải quyết các loại hồ sơ người có công bảo đảm chính xác, đầy đủ và minh bạch về chế độ thụ hưởng; thanh tra, kiểm tra thường xuyên công tác xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công; phát hiện và giải quyết dứt điểm các vi phạm chính sách ưu đãi người có công để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội; tập trung giải quyết những trường hợp người thực sự có công nhưng chưa được xác nhận, thụ hưởng chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn tỉnh.

- Đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc chăm sóc người có công với cách mạng và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, huy động tổng hợp các nguồn lực để chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; phấn đấu trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong tình hình kinh tế - xã hội đang có nhiều tác động bất lợi đến an sinh xã hội như hiện nay, người có công và gia đình vẫn bảo đảm ổn định cuộc sống.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức về công tác chăm sóc người có công với cách mạng trong mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; luôn xem việc chăm sóc người có công là trách nhiệm cao quý, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ và người có công với cách mạng đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

- Tiếp tục hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo, hộ đã cầm cố sổ thuộc diện người có công; đồng thời, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có kế hoạch cụ thể giúp người có công phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo; tiến hành điều tra, khảo sát tình hình đời sống của hộ người có công để có những giải pháp hỗ trợ hiệu quả, phấn đấu không còn hộ người có công thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí mới trong thời gian tới. 

 

 

e) Lĩnh vực Bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Đẩy mạnh việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2013 - 2020; Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em; Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình thúc đẩy quyền tham gia trẻ em giai đoạn 2016 - 2020; quy định tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em...; tạo mọi điều kiện để đáp ứng nhu cầu, các quyền cơ bản của trẻ em; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em; xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh để tất cả trẻ em có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, phát triển toàn diện về mọi mặt và có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

- Vận động sở, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội xây dựng mới và củng cố các điểm vui chơi cho trẻ em; vận động Quỹ Bảo trợ trẻ em nhằm giúp đỡ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em khuyết tật, trẻ em bị bệnh hiểm nghèo trên địa bàn tỉnh.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được phân công, các sở, ban, ngành xây dựng chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể năm 2017 để thực hiện các nội dung của Chương trình hoặc lồng ghép với Chương trình phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, đề ra giải pháp sát hợp, cụ thể; tăng cường theo dõi, giám sát, điều hành và hướng dẫn các địa phương thực hiện; kịp thời nghiên cứu, kiến nghị, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh, Trung ương ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, bổ sung, tạo sự thông thoáng và điều kiện tốt nhất để thực hiện Chương trình trong năm 2017 cũng như những năm tiếp theo.

Trên đây là Báo cáo kết quả 01 năm thực hiện “Chương trình an sinh, phúc lợi xã hội; giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020” trên địa bàn tỉnh./.

 

Nơi nhận:

- Bộ LĐTBXH;

- TT: TU, HĐND tỉnh;

- UBMTTQVN và các đoàn thể tỉnh;

- Sở, ban, ngành tỉnh;

- UBND huyện, thị xã, thành phố;

- Lưu: VT, KGVX. DM

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

 

 

 

Lữã ký)

                       Đồng Văn Thanh